Diễn Đàn Thương mại
Wellcome Forum Thuongmailaw.com
Diễn đàn Sinh viên Luật Thương mại
Trường Đại học Luật Hồ Chí Minh
Khuyến cáo nên dùng trình duyệt Mozilla Firefox 1280x840
Vấn đề Bản Quyền được thuongmailaw.com tôn trọng
Để Xem được bài viết vui lòng Đăng nhập hoặc Đăng kí
Mọi góp ý xin gởi vào Email:
vipclub_toan@yahoo.com
---------------------------------------------------------------------
BQT-Lee
Top posters
leeGROUP (520)
 
nguyenhung (82)
 
bé Út (44)
 
LuXuBu (10)
 
tuquynh (8)
 
Huyen Ga (8)
 
tik (7)
 
mr ! hung (7)
 
Shin262 (6)
 
buoi (5)
 

Keywords

RSS feeds


Yahoo! 
MSN 
AOL 
Netvibes 
Bloglines 


Social bookmarking

Social bookmarking digg  Social bookmarking delicious  Social bookmarking reddit  Social bookmarking stumbleupon  Social bookmarking slashdot  Social bookmarking yahoo  Social bookmarking google  Social bookmarking blogmarks  Social bookmarking live      

Bookmark and share the address of TMK33A on your social bookmarking website

Bookmark and share the address of Diễn Đàn Thương mại on your social bookmarking website

Your ad here !
Affiliates
free forum

Lịch Xem TV
Từ điển Việt Anh
Dictionary:
Enter word:
© lee 2010-Soft download

Poll

Làm áo Diễn đàn Thuongmailaw.com

 
 
 
 
 
 

Xem kết quả

PTC
Link liên kết
Kiếm Tiền Online Việc Làm Online Kiếm Tiền Trên Mạng Make Money Online
quang cao
Thông tin việc làm,tuyển dụng
Quảng Cáo liên kết
Liên kết LOGO


Hệ thống pháp luật Common law và Cilvil law

Go down

Hệ thống pháp luật Common law và Cilvil law

Bài gửi by nguyenhung on Sun Jul 18, 2010 8:54 pm

Hệ thống pháp
luật Common Law và Civil Law là hai hệ thống pháp luật lớn và điển hình trên
thế giới. Hai hệ thống này có những điểm đặc thù, tạo nên những "dòng
họ" pháp luật, với những đặc trưng pháp lý riêng. Mặc dù ngày nay pháp luật
ở các nước thuộc hai hệ thống này cũng có nhiều thay đổi theo hướng bổ khuyết
những mặt hạn chế, tích hợp nhiều nội dung mới, nhưng về cơ bản sự thay đổi ấy
vẫn không làm mất đi những đặc thù riêng, triết lý riêng, từng tạo nên
"bản sắc" của hai hệ thống pháp luật này.



1. Hệ
thống pháp luật lục địa (Continetal Law), hệ thống Luật dân sự (Civil Law), hay
gọi đơn giản hơn là hệ thống pháp luật Pháp - Đức:



Đây là hệ thống
pháp luật có nền tảng bắt nguồn từ hệ thống pháp luật của Pháp và pháp luật của
một số nước lục địa Châu Âu. Trong đó pháp luật của Pháp là quan trọng nhất và
có ảnh hưởng lớn tới pháp luật của các nước khác trong hệ thống pháp luật này.
Hệ thống pháp luật của các nước này nhìn chung đều chịu ảnh hưởng của Luật La
Mã. Ngày nay, phạm vi ảnh hưởng của hệ thống Civil Law tương đối rộng bao gồm
các nước Châu Âu lục địa (Pháp, Đức, Italia…), Quebec
(Canada), Louisiana (Mỹ), Nhật Bản và một số nước Châu
Mỹ Latinh (Brazin, Vênêduêla…).




Về mặt lịch sử hình thành, Khi
những bộ tộc Đức (Germanic) xâm lăng các đế quốc Tây Âu, một số qui định của
luật La Mã đã được thay thế bằng luật bộ tộc Đức. Tuy nhiên, vì tinh thần của
luật Đức là căn cứ vào yếu tố cá nhân, không căn cứ vào yếu tố lãnh thổ, nên
dân chúng của đế quốc La Mã cũ cùng con cháu họ vẫn được phép sử dụng luật La
Mã. Giáo hội Công giáo La Mã cũng góp phần quan trọng trong việc duy trì luật
pháp La Mã cũ vì giáo luật, tức là luật dùng trong các Toà án của giáo hội, đã
được xây dựng theo luật La Mã. Vào thế kỷ thứ 11 và 12, khi tìm được nguyên văn
Bộ Dân luật Corpus Juris Civilis, các học giả bắt đầu nghiên cứu và giải thích,
hiện đại hóa những nội dung luật cũ cho phù hợp với tình hình xã hội thời đó .
Họ mở trường luật ở Paris, Oxford,
Prague,
Heidelburg, Copenhague; họ làm luật sư cho giáo hội, cho các vua chúa, và cho
các vùng lãnh thổ khắp Châu Âu. Nhờ cùng được đào tạo chung theo một nội dung ,
luật gia của các nước Châu Âu đã tạo nên những Bộ Dân Luật của nước họ xây dựng
trên nền tảng chung là luật La Mã.




Ngày nay, các học giả luật so sánh cho rằng hê thống Civil law phải được chia
nhỏ thành 3 nhóm khác nhau:
+ Civil Law của Pháp: ở Pháp, Tây Ban Nha, và những nước thuộc địa cũ của Pháp;
+ Civil Law của Đức: ở Đức, Aó, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Nhật Bản, Hàn Quốc và Cộng hòa
Trung Hoa (Lưu ý: Luật Trung Hoa và Luật
Việt Nam hiện nay theo truyền thống học thuật, thì được xếp vào hệ thống pháp
luật xã hội chủ nghĩa, nhưng trên thực tế nhiều qui định về dân sự, về tố tụng,
về hệ thống Toà án lại mang nhiều đặc điểm của Civil Law);

+ Civil Law của những nước Scandinavian: Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy
và Ailen.
Luật của Bồ Đào Nha và Italia cũng chịu ảnh hưởng của Pháp, Đức, nhưng những bộ
luật dân sự thế kỷ 19 thì gần hơn với Bộ luật Napoleon và những bộ luật dân sự
thế kỷ 20 thì lại giống với luật dân sự của Đức. Về đào tạo luật, thì những
nước này lại giống với hệ thống pháp luật của Đức hơn. Luật ở những nước này
thường được gọi là hệ thống luật có tính chất pha tạp (hybrid nature).
Luật ở Hà Lan hay dân luật ở Hà Lan thì rất khó để xếp vào một nhóm nào, nhưng
cũng phải thừa nhận rằng Luật dân sự của Hà Lan có ảnh hưởng không nhỏ đến luật
tư hiện đại của nhiều quốc gia. Điển hình là pháp luật dân sự của Nga hiện hành
chịu ảnh hưởng trực tiếp từ luật của Hà Lan.






2. Hệ
thống pháp luật Ănglô - xắcxông, hệ thống Thông luật (Common Law), hay gọi đơn
giản hơn là hệ thống pháp luật Anh - Mỹ:






Pháp luật Anh -
Mỹ là pháp luật ra đời ở Anh, sau này phát triển ở Mĩ và những nước là thuộc
địa của Anh, Mĩ trước đây. Đây là hệ thống pháp luật phát triển từ những tập
quán (custom), hay còn được gọi là hệ thống pháp luật tập quán, hay hệ thống
pháp luật coi trọng tiền lệ (precedents/ judge made law).






Common Law hiện
nay cần phải được hiểu theo 3 nghĩa khác nhau:






- Thứ nhất, đó là
một hệ thống pháp luật lớn trên thế giới dựa trên truyền thống hệ thống pháp
luật của Anh;



- Thứ hai, trên
phương diện nguồn luật, án lệ (Case law) của Common Law được tạo ra bởi tòa án,
phân biệt với đạo luật của Nghị viên;



- Thứ ba, trên
phương diện hệ thống Tòa án, Tòa án và các án lệ của Common Law cũng khác biệt
với Tòa án và các án lệ của Equity Law.






Về lịch sử
hình thành,
nguồn gốc
của hệ thống luật này bắt đầu từ năm 1066 khi người Normans xâm chiếm Anh quốc và Hoàng Đế
William bắt đầu tập trung quyền lực vào tay triều đình mới. Thuật ngữ luật
chung ( Common Law ) xuất phát từ quan điểm cho rằng các tòa án do nhà vua lập
ra, áp dụng các tập quán chung ( Common Custom) của vương quốc, trái ngược với
những tập tục luật pháp địa phương áp dụng ở các miền hay ở các tòa án của điền
trang, thái ấp phong kiến.



Các nguyên tắc
bền vững của luật chung đã được tạo ra bởi ba tòa án được vua Henry II (1133 -
1189) thành lập là Tòa án Tài chính (Court of Exchequer) để xét xử các tranh
chấp về thuế; Tòa án thỉnh cầu Phổ thông ( Court of Common Pleas) đối với những
vấn đề không liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhà vua; và Tòa án Hoàng Đế
( Court of the King’s Bench) để giải quyết những vụ việc liên quan trực tiếp
đến quyền lợi của Hoàng gia.




Thực chất, trước đó dưới thời
của Hoàng đế William, những tập quán của Anh ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn
hóa Đức ở Châu Âu lục địa. Tòa án lúc đó là những người dân được triệu tập để
cùng giải quyết tranh chấp và nếu không xử được người ta dùng phương pháp thử
tội (ordeal) bằng việc bắt bị cáo cầm vào một miếng sắt nung đỏ, hoặc cầm một
viên đá đã được ngâm trong nước sôi, hoặc hình thức thề độc. Nếu vết thương đó
lành sau một thời gian xác định, anh ta sẽ bị tuyên là vô tội và ngược lại.




Năm 1154, Vua Henry II đã tạo ra một hệ thống luật chung và sáng tạo ra một hệ
thống tòa án thống nhất đầy quyền năng, ông đưa các thẩm phán từ tòa án Hoàng
gia đi khắp nơi trong nước và sưu tầm, chọn lọc cách thức giải quyết các tranh
chấp. Sau đó những thẩm phán này sẽ trở về thành Luân đôn và thảo luận về những
vụ tranh chấp đó với các thẩm phán khác. Những phán quyết này sẽ được ghi lại
và dần trở thành án lệ (precedent), hay theo Tiếng Latin là stare decisis. Theo
đó, khi xét xử thẩm phán sẽ chịu sự ràng buộc bởi những phán quyết đã có từ
trước đó. Thuật ngữ “Common Law” bắt đầu xuất hiện từ thời điểm đó. Như vậy
trước khi Nghị viện ra đời trong lịch sử pháp luật của Anh, Common Law đã được
áp dụng trên toàn bộ vương quốc trong vài thế kỉ.




Đến thế kỷ thứ 15, khi đó xuất hiện một thực tiễn pháp lý là khi luật “Common
Law” không đủ sức để giải quyết một vụ việc, và người đi kiện cho rằng cách
giải quyết của Common Law là chưa thỏa đáng. Thí dụ, trong một vụ kiện về đất
đai, người đi kiện cho rằng khoản tiền bồi thường mà theo cách giải quyết của
Common law là không đủ bồi thường cho hành vi mà người xâm phạm đã cướp không
của họ, họ yêu cầu rằng người vi phạm này còn phải bị đuổi và phải trả lại phần
đất lấn chiếm đó. Chính điều này là cơ sở để xuất hiện hệ thống mới là hệ thống
pháp luật công bình (system of equity), đồng thời xuất hiện thiết chế Tòa công
bình, do viên Tổng chưởng lý (Lord Chancellor) đứng đầu. Về bản chất thì luật
công bình vẫn chiếm ưu thế hơn so với luật Common Law trong trường hợp có sự
xung đột. Điều này đã được nêu trong Đạo luật hệ thống tư pháp (Judicature
Acts) năm 1873 và 1875.






Ngày nay bên cạnh
án lệ với tư cách là một loại nguồn pháp luật đặc thù của hệ thống Common Law,
luật thành văn và các loại qui tắc khác cũng được coi là một bộ phận cấu thành
của hệ thống pháp luật này. Khi xét xử những nước theo hệ thống pháp luật
Common Law thường căn cứ vào hai câu hỏi lớn, đó là câu hỏi sự thật khách quan
(question of fact) và câu hỏi về luật - theo nghĩa rộng(question of law). Trong
bất cứ vụ việc nào, ngày nay khi xét xử các thẩm phán của Common Law vẫn dựa cả
vào án lệ, luật viết và những căn cứ thực tế để xét xử.






3. Những
khác biệt:






Những đặc điểm
khác nhau cơ bản của hai hệ thống này được thể hiện rõ nét nhất ở 4 tiêu chí:
nguồn gốc của luật (origin of law);
tính chất pháp điển hóa (codification);
thủ tục tố tụng (Procedure);
Vai trò của thẩm phán và luật sư (Role of
the Jurists
)



3.1. Về
nguồn gốc của luật:






Trong pháp luật
lục địa, các quan hệ tài sản gắn liền với những nguyên tắc của Luật dân sự La
Mã - Tập hợp những qui định pháp luật làm nền tảng cho Luật dân sự La Mã của
Hoàng đế Justinian (Justinian’s Corpus Juris Civilis). Nói đến sự ảnh hưởng của
Luật La Mã, Mác đã từng nhận xét rằng pháp luật các nước Châu Âu không thể đem
lại những hoàn thiện đáng kể cho Luật La Mã cổ đại mà chỉ sao nó lại một cách
cơ bản. Pháp luật Anh - Mỹ không ảnh hưởng sâu sắc và gắn bó mật thiết với
những nguyên tắc của luật dân sự La Mã như pháp luật lục địa. Tuy nhiên cả hai
hệ thống pháp luật này đều ít nhiều đều thừa hưởng sự giàu có và tính chuẩn mực
của thuật ngữ pháp lý La Mã. Ví dụ : stare decisis (Phán quyết của Tòa án trước
đó phải được công nhận như tiền lệ); pacta sunt servandas (Hợp đồng phải được
tôn trọng).



Sự ảnh hưởng của
các học thuyết pháp lý, với tư cách là một nguồn luật thì ở Common Law có xu
hướng áp dụng nhiều hơn so với các nước theo truyền thống Civil law.




3.2.Về tính chất pháp điển hóa
Quan niệm tiếp cận pháp luật của hai hệ thống pháp luật này là khác nhau. Hệ
thống Civil law quan niệm luật pháp là phải từ các chế định cụ thể (All law resides in institutions), còn hệ
thống Common law lại quan niệm luật pháp được hình thành từ tập quán (All law is custom).



Ưu điểm rõ nét
của các Bộ luật trong Civil Law là tính khái quát hóa, tính ổn định cao
(certainty of law). Pháp luật Common Law dựa chủ yếu trên nguồn luật là tiền lệ
pháp (Stare decisis. Thẩm phán
vừa là người xét xử vừa là người sáng tạo ra pháp luật một cách gián tiếp. Ưu
điểm rõ nét nhất của các tập quán là tính cụ thể, linh hoạt và phù hợp với sự
phát triển của các quan hệ xã hội.



Pháp luật lục địa
chia thành công pháp (public law)
và tư pháp (private law), còn
pháp luật Anh - Mỹ khó phân chia. Công pháp bao gồm các ngành luật, các chế
định pháp luật điều chỉnh các quan hệ về tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà
nước, những quan hệ mà một bên tham gia là các cơ quan nhà nước. Còn tư pháp
bao gồm các ngành luật, các chế định pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan
đến các cá nhân, tổ chức khác.




3.3. Về thủ tục tố tụng:



Hệ thống pháp
luật lục địa phát triển hình thức tố tụng thẩm vấn, tố tụng viết (inquisitorial system/ written argument),
còn Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ phát triển hình thức tố tụng tranh tụng (Case system/ oral argument). Tuy nhiên
cũng không hoàn toàn đúng nếu khẳng định rằng hệ thống Civil Law không hề áp
dụng việc suy đoán vô tội (presumption of
innocence
).



Khi xét xử, các
nước theo hệ thống Common Law rất coi trọng nguyên tắc Due process.
Đây là nguyên tắc được nhắc đến trong tu chính án thứ 5 và 14 của Hoa Kỳ. Nội
dung chính của nguyên tắc này nói đến ba yêu cầu chính: yêu cầu bình đẳng của
các đương sự trong việc đưa ra chứng cứ trước Toà (equal footing); yêu cầu qui trình xét xử phải được tiến hành
bởi một Thẩm phán độc lập có chuyên môn, cùng một bồi thẩm đoàn vô tư, khách
quan (fair trial and impartial jury);
yêu cầu luật pháp phải được qui định sao cho một người dân bình thường có thể
hiểu được hành vi phạm tội (Laws must be
written so that a reasonable person can understand what is criminal behavior).

Hệ thống Civil Law dựa trên qui trình tố tụng thẩm vấn (inquisitorial system)
nên trong các vụ án hình sự, thẩm phán căn cứ chủ yếu vào Luật thành văn, kết
quả của cơ quan điều tra, và quá trình xét xử tại Toà để ra phán quyết.



Toà án ở các nước
theo truyền thống Common Law được coi là cơ quan làm luật lần thứ hai, hay cơ
quan sáng tạo ra án lệ (The second Legislation). Ngược lại ở các nước theo
truyền thống Civil Law, chỉ có Nghị viện mới có quyền làm luật, còn Toà án chỉ
là cơ quan áp dụng pháp luật.



Ở các nước theo
truyền thống Common Law đa phần các hiệp định quốc tế không phải là một phần
của luật quốc nội/ luật quốc gia (domestic law). Chúng chỉ có thể được toà án
áp dụng khi các hiệp định quốc tế đã được nội luật hoá bởi cơ quan lập pháp.
Các nước theo truyền thống Civil Law thì khác, ví dụ như ở Thụy Sĩ, các điều
ước quốc tế được áp dụng trực tiếp như là một phần của luật quốc nội, vì vậy
các Toà án có thể trực tiếp áp dụng các điều ước quốc tế khi xét xử.




3.4. Về vai trò của luật sư và thẩm
phán, chứng cứ:




Pháp luật Anh - Mỹ do án lệ là nguồn cơ bản, đặc biệt với truyền thống coi
trọng chứng cứ nên luật sư, thẩm phán rất được coi trọng. Pháp luật lục địa do
văn bản qui phạm pháp luật là nguồn chủ yếu, đồng thời do thông lệ "án tại
hồ sơ" - quá trình điều tra phụ thuộc phần lớn vào kết quả của cơ quan
điều tra do vậy luật sư ban đầu ít được coi trọng như các nước theo hệ thống
pháp luật Anh - Mỹ. Thẩm phán ở các nước Civil Law chỉ tiến hành hoạt động xét
xử mà không được tham gia hoạt động lập pháp, họ không được tạo ra các chế
định, các qui phạm pháp luật.



Thẩm phán của
Civil law được đào tạo theo một qui trình riêng, họ thường trước đó không phải
là các luật sư. Nhưng ở Common Law thì khác, thẩm phán hầu hết đều được lựa
chọn từ những luật sư rất danh tiếng;






Nguyên nhân dẫn
đến sự khác nhau của hai hệ thống pháp luật này có rất nhiều, có cả nguyên nhân
khách quan và chủ quan, nhưng cơ bản vẫn là do tiến trình phát triển của cách
mạng tư sản khác nhau quyết định. Cách mạng tư sản ở các nước đã diễn ra với
tính chất, mức độ triệt để là khác nhau, có nước cách mạng chống phong kiến
diễn ra triệt để, có nước không triệt để.



[1].




Nói đến hệ thống pháp luật tư sản thì hai hệ thống pháp luật trên là hai hệ
thống pháp luật lớn, tuy nhiên bên cạnh hai hệ thống pháp luật này còn có sự
tồn tại của hệ thống pháp luật các nước Hồi giáo, hệ thống pháp luật Bắc Âu …







Từ cuối thế kỷ thứ 20, các nước theo hệ thống Civil Law đã có nhiều thay đổi.
Ví dụ không còn chỉ dựa đơn thuần vào Bộ Dân luật , mà ở các nước này, các án
lệ, các văn bản dưới luật, các nghiên cứu học lý tư pháp cũng đã được xem là
những nguồn luật quan trọng. Các bộ dân luật cũng được bổ sung, sửa đổi, nhất
là ở Đức (còn gọi tắt là BGB).


Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn



avatar
nguyenhung
MOD CLUB
MOD CLUB

Posts : 82
Join date : 08/03/2010
Age : 27
Đến từ : Gia lai

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết